Hình ảnh hoạt động
Thiền Lâm - ngôi chùa lịch sử, Thiền viện đầu tiên lớn nhất Đàng Trong: Công trình nghiên cứu đầy sai lệch về chùa Thiền Lâm (Phần 4)
Cập nhật ngày: 12/01/2018 12:00:00
Phần 4: (tiếp theo đến hết)

Một số vấn đề khác chúng tôi xin tiếp tục trao đổi với NNC NĐX. Đó là tên gọi “Giác Vương Nội viện” 覺王內院.

Cụ thể, theo cách NNC NĐX hiểu và thể hiện trong các công trình của mình, thì Giác Vương nội việnmột ngôi chùa được chúa Nguyễn Phúc Chu lập ra để Hoàng gia tu tập, và “trước ngày Phật đản năm đó (1695), Hòa thượng Thích Đại Sán được chúa mời vào dự lễ khánh thành và đặt tên là Giác Vương Nội Viện chứ không được ở trong phủ[1].

Cách hiểu và luận giải của tác giả Thiền Lâm khiến chúng tôi khá bất ngờ. Hẳn nhiên, ở đây ông vừa không nghiên cứu kỹ về các thuật ngữ của Phật giáo, lại vừa tự mình đưa ra những suy đoán theo ý riêng.

Trong Hải ngoại kỷ sự, tại cuối phần đề tựa cho cuốn sách của Bổn sư Thích Đại Sán, Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu đã viết: “Đại Việt quốc vương Nguyễn Phúc Chu thụ Bồ Tát giới đệ tử, pháp danh Hưng Long đảnh lễ soạn ư Tây cung Giác Vương nội viện chi tịnh danh phương trượng大越國王阮福週受菩薩戒弟子法名興龍頂禮譔於西宮覺王內院之淨名方丈” (Đại Việt quốc vương Nguyễn Phúc Chu là đệ tử thọ Bồ Tát giới, pháp danh Hưng Long đảnh lễ soạn ở tòa Phương trượng trong Giác Vương Nội viện ở Tây cung).

Ngay tại dòng đề tựa này, chúa Nguyễn Phúc Chu đã chỉ rõ “Tây cung Giác Vương Nội Viện…” 西宮覺王內院 tức là Giác vương Nội viện thuộc Tây cung (Tây cung ở đây chính là phủ Dương Xuân). Vậy, “Giác Vương nội viện” 覺王內院 là gì? có liên quan gì đến Tăng viện? Phật viện hay không?.

Xin trả lời: Giác Vương nội viện覺王內院 chính là Đại Hùng bảo điện大雄寶殿, tức Chánh điện, nơi tổ chức các lễ chính trong chùa Phật.

Giác Vương覺王 (hay Giác Hoàng 覺皇) và Đại Hùng 大雄 là hai trong số vô vàn danh hiệu của đức Phật.

Nội viện 內院: Viện trong, tức là 1 trong số 2 viện trên trời Đâu Suất (Đâu Suất thiên). Trời Đâu Suất là tầng trời thứ 4 trong 6 tầng trời của cõi Dục; tầng trời này có Nội việnNgoại viện. Nội viện gọi là Thiện pháp đường, do thần Lao độ bạt đề kiến tạo, là nơi ở của bồ tát Bổ xứ Di lặc, chư Thiên thường đến đây nghe Bồ tát thuyết pháp[2]. Như thế, Nội viện ở đây chính là nơi thuyết pháp, nơi giảng học Phật pháp.

Từ đó suy ra, Giác Vương Nội Viện là thuật ngữ chỉ ngôi chánh điện/đại điện (như Đại Hùng bảo điện) chứ không phải là một ngôi chùa Phật được quốc chúa Nguyễn Phúc Chu lập ra. Giác vương nội viện nằm trong Tây cung – phủ Dương Xuân, chứ không hề ở bên ngoài phủ Chúa như NNC NĐX suy đoán.

Cũng từ nhận định trên, chúng tôi thấy NNC NĐX dường như không am tường về kiến thức Phật giáo thường thức. Nếu hiểu hoặc có tinh thần muốn tìm hiểu về thuật ngữ Phật giáo tất khi đọc qua Hải Ngoại kỷ sự, ông đã biết rõ Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu bắt đầu cho xây dựng ngôi chùa Phật ở trong cung vào thượng tuần tháng ba năm Ất Hợi (1695). Sách Hải ngoại kỷ sự, quyển 2, tờ 1a ghi rõ rằng: “Tam nguyệt sơ tuần, Vương cải tác cung nội Chiêu đề, xuất cư Thủy điện” 三月初旬王改作宮內招提出居水殿 (Thượng tuần tháng 3, Vương đổi làm ngôi Chiêu đề [chùa Phật]ở trong Cung, ngài ra ở ngoài Thủy điện).

Ảnh 16: Hải ngoại kỷ sự, Q2, tờ 1a (chúa cho xây Chiêu Đề [Chùa Phật] ở trong cung)

 

          Chiêu Đề 招提 (Phạn: Catur-diza, Pàli: Catu-disa, cũng viết “thác đề” 拓提), nguyên ủy chỉ nơi cư trú của tăng chúng muôn phương (chiêu 招 là mời gọi, đề 提 là dẫn đi), sau dùng để chỉ CHÙA PHẬT.  Như thế, thời điểm đầu tuần tháng 3 năm Ất Hợi, chúa Nguyễn Phúc Chu đã cho đổi xây “Nội cung Chiêu Đề” 宮內招提 tức là cho xây dựng Chùa Phật ở Nội cung (trong cung).

          Ngôi Chiêu đề (Phạm vũ, tức chùa Phật) trong Nội cung (Tây cung) được cho xây dựng từ thượng tuần tháng 3 đến 06 tháng 04 năm Ất Hợi (1695) thì lạc thành. Sách Hải ngoại kỷ sự, Q.2, tờ 19.a cho biết: “Sơ lục nhật truyền Tỳ kheo giới. Quốc mẫu vương huynh thiết trai, pháp ngữ biệt lục. Vương cung Phạm Vũ lạc thành, sách ngạch liên, vi đề viết: Giác Vương Nội Viện. Đại điện liên viết…” 初六日傳比丘戒。國母王兄設齋法語別錄。王宮梵宇落成,索額聯為題曰覺王內院。大殿聯曰 (Ngày mồng 6 truyền Tỳ kheo giới, Quốc mẫu và vương huynh đặt tiệc chay, ghi chép lời pháp ngữ. Chùa Phật trong Vương cung đã xây xong, cầu ta viết lên biển ngạch và đối liên, ta đề [biển ngạch] là: Giác Vương Nội Viện, đối liên trong Đại điện là:…)

Ảnh 17: Hải ngoại kỷ sự, quyển 2, tờ 19 a

 

Với phần đề tựa của Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu cùng đoạn miêu tả trên (ngày 06 tháng 4), chúng tôi thiết nghĩ đã đủ chứng lý để khẳng định Giác Vương Nội Viện chính là Đại điện/chánh điện của ngôi chùa Phật trong vương cung (Tây cung/phủ Dương Xuân). Bởi, theo trình tự, hòa thượng Thạch Liêm đề 4 chữ Giác Vương Nội Viện vào biển ngạch treo lên chánh điện, rồi đề tiếp đối liên ở chánh điện.

Các chứng cứ trên một lần nữa chứng tỏ các phần luận giải của NNC NĐX hoàn toàn chỉ theo cách hiểu và suy đoán riêng của ông, không căn cứ vào chữ nghĩa văn bản và không chuẩn xác.

 Vấn đề cần bàn tiếp theo là việc học giả NĐX miêu tả, tường thuật, đoán định sai, có ý võ đoán về chủ nhân ngôi tháp mộ, hay về bia đá, vật liệu xây dựng… liên quan đến chùa Thiền Lâm.

Cụ thể, trong sách Thiền Lâm, tác giả NĐX không rõ vô tình hay cố ý, đã cung cấp những ảnh tháp mộ của một số vị Hòa thượng liên quan đến chùa Thiền Lâm không đúng với danh phận của họ.

Chẳng hạn, tại trang 48 của sách này, ông viết: “…sau khi Hòa thượng Thích Đại Sán về Trung Quốc một người đệ tử của Hòa thượng là Hòa thượng Hương [phải là Hưng] Liên hiệu là Quả Hoằng – Quốc sư của chúa Nguyễn Phúc Chu mới được kế vị, trở thành vị tổ thứ hai của Thiền Lâm viện (Bia tháp của ngài, lúc làm Nam Giao Tân Lộ đã được chuyển vào và xây lại bên cạnh con đường vào chùa Vạn Phước ngày nay)”. Tiếp đó, NNC NĐX đưa hình ảnh tháp mộ vị thiền sư mà ông cho là tháp mộ Quốc sư Hưng Liên, dưới đó là phần chú thích: “H.25 Khi người Pháp đắp con đường mới Nam Giao, chùa Thiền Lâm bị dời qua phía tây, thì ngôi tháp này cũng bị dời vào chỗ hiện tại (phía ngoài cổng chùa Vạn Phước và gần lăng mộ cụ Phạm Quỳnh). Tấm bia mang theo ghi: “Sắc tứ Thanh Trì Quả Hoằng Quốc sư…” (vị tổ thứ hai chùa Thiền Lâm) nhưng người ta đã đắp lên mặt bia một lớp vôi vữa. Ngày nay muốn đọc nội dung bia phải cạy lớp vôi vữa khó hiểu đó[3].

Theo gợi ý của ông, chúng tôi đã trực tiếp khảo sát ngôi tháp mộ này. Sau khi xem qua dòng văn trên bia tháp, chúng tôi thấy rõ đây không phải là tháp mộ của ngài Hưng Liên Quả Hoằng – vị Quốc sư thời chúa Nguyễn Phúc Chu.

Bởi, dòng văn chữ Hán trên tháp mộ viết: “Sắc tứ Thiền Lâm tự Tỳ kheo Thành công, thụy Đại Huệ lão thiền sư chi tháp” 敕賜禪林寺比丘成公謚大慧老禪師之塔, tức nghĩa là tháp mộ của lão thiền sư Thành công, thụy Đại Huệ ở chùa Sắc tứ Thiền Lâm (xem ảnh 18 - 19).

Ảnh 18: toàn cảnh Tháp mộ Thiền sư Thành công thụy Đại Huệ (tọa lạc ở góc ngã ba, đường vào chùa Vạn Phước, gần mộ cụ Phạm Quỳnh)

 

Ảnh 19: lòng bia tháp mộ thiền sư Thành công, thụy Đại Huệ

 

 Không tin NNC NĐX đọc nhầm, mà có lẽ còn ngôi tháp mộ của Quả Hoằng quốc sư nằm loanh quanh đâu đó, chúng tôi bèn tìm đi tìm lại nhiều lần, nhiều ngày liên tiếp xung quanh khu vực (chùa Thiền Lâm, chùa Vạn Phước, chùa Kim Tiên…), tuyệt nhiên vẫn không hề thấy có ngôi tháp mộ Quả Hoằng quốc sư.

Qua đây, chúng tôi thực sự không hiểu vì sao NNC NĐX lại dẫn liệu sai ngôi tháp mộ của thiền sư Thành công Đại Huệ chùa Thiền Lâm thành Hưng Liên Quả Hoằng quốc sư? Phải chăng ông muốn tạo thêm “sức nặng” cho nhận định của mình về việc triều Nguyễn phá hoại, giấu kín các di tích liên quan đến chùa Thiền Lâm?

Cùng thiên hướng tạo chứng cứ để góp phần khẳng định việc triều Nguyễn cố tình đập phá, xóa sổ hoặc mài nhẵn các dấu tích liên quan đến chùa Thiền Lâm, đến phủ Dương Xuân, đến lăng mộ vua Quang Trung…trên gò Bình An, trong các công trình của mình, tác giả NĐX cung cấp loạt hình ảnh về đá, sỏi, gạch vồ… nằm vương vãi khắp nơi, thứ vật liệu mà ông cho là đá táng lăng mộ vua Quang Trung (ở trang 34-36, sách Thiền Lâm). Song, qua nhiều năm khảo sát, nghiên cứu, NNC NĐX chưa hề cung cấp được một chứng lý khoa học thuyết phục nào chứng tỏ đấy là đá táng mộ vua Quang Trung mà không phải là đá gạch của công trình nào khác!

Bên cạnh đó, ông cung cấp hình ảnh tấm bia đá granit có rùa đội bia (sách Đi tìm dấu tích cung điện Đan Dương (bản in 2007: trang 63; tái bản 2015: trang 70); sách Thiền Lâm, trang 34 và sách Phủ Dương Xuân thời các chúa Nguyễn… trang 83) với dòng chú thích khá thống nhất: “Tấm bia đá granit đã bị “mài” nhẵn mất hết chữ đặt trên lưng rùa tại Cồn bông sứ (trước năm 1988). Hiện được dựng ở sân sau chánh điện chùa Thiền Lâm[4].

Thực tế, với tấm bia đá này từng được Học giả Cadière khảo sát và miêu tả trong bài viết “Tombeaux Annamites dans les environs de Hué” (Lăng mộ của người An Nam trong phụ cận Huế), BAVH số 1 – 1928. Trong số 317 ngôi mộ toàn vùng do ông L.Cadière khảo sát, chúng ta thấy hình ảnh ngôi mộ thứ 51 (do Họa sĩ Nguyễn Thứ vẽ) thể hiện rõ nét tấm bia đá có rùa đội bia này ở ấp Bình An, làng Phú Xuân.

Qua hình ảnh đặc tả của Họa sĩ Nguyễn Thứ về ngôi mộ có rùa đội bia, độc giả thấy rõ đây không phải là ngôi tháp mộ Phật giáo, mà chỉ là ngôi mộ của một người nào đó, hẳn có vị thế khá quan trọng ngày xưa.

Ảnh 20: ngôi mộ có rùa đội bia trong BAVH, bài về Lăng mộ của Cadière

 

Qua tư liệu này, chúng tôi cho rằng ngôi mộ này chính là nơi có tấm bia đá granit đặt trên lưng rùa tại cồn Bông Sứ xưa, và hiện được đặt ở chùa Thiền Lâm.

Ảnh 21: Bia đá granit có rùa đội bia (hiện đặt ở chùa Thiền Lâm)

 

Trong nhiều năm khảo sát về dấu tích lăng mộ thời chúa Nguyễn, chúng tôi thấy loại hình, phong cách mỹ thuật của bia đá có rùa đội bia hiện đặt tại chùa Thiền Lâm là bia đá đặc trưng của thời chúa Nguyễn, ở các điểm tiêu biểu sau:

- Trán bia là phần rời với chất liệu đá khác phần thân bia trở xuống. Phong cách này là đặc trưng của các bia đá granit tiêu biểu thời Chúa Nguyễn và cũng rất hiếm thấy. Hiện nay, chúng ta chỉ bắt gặp kiểu bia đồng dạng trán rời ở bia đá “Ngự kiến Thiên Mụ tự” (1714) tại chùa Thiên Mụ do Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu soạn, bia tháp tổ Liễu Quán và bia thổ thần ở Tháp tổ Liễu Quán. Điều đó càng góp phần chứng tỏ chủ nhân tấm bia là người sống thời Chúa Nguyễn, lại là người có vị trí không nhỏ đối với lịch sử văn hóa Đàng Trong.

- Nét khắc trên trán bia, diềm bia đều khá sâu, đậm, đầy thẩm mỹ. Lòng bia thu vào trong khá nhiều so với diềm bia. Viền bọc quanh lòng bia được thể hiện khá đậm. Rùa đội bia có cùng hình dạng và hoa văn trang trí toàn thân rùa (các yếu tố mĩ thuật đó rất rất giống với phong cách bia Ngự kiến Thiên Mụ tự)

Ảnh 22: Bia đá Ngự kiến Thiên Mụ tự (do Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu soạn, 1714) hiện đặt tại nhà bia chùa Thiên Mụ có phong cách khá giống với bia đá ở chùa Thiền Lâm.

 

Ảnh 23: hai bia đá trán rời ở tháp tổ Liễu Quán

 

Như thế, qua các đặc điểm tiêu biểu trên, chúng tôi cho rằng bia Thiền Lâm nhất thiết phải xuất hiện và tồn tại vào thời chúa Nguyễn; và chủ nhân của bia đá này hẳn là một nhân vật khá có vị thế quan trọng đối với vương triều hoặc lịch sử xã hội Đàng Trong. Cũng do vậy, bia đá này không hề có dấu hiệu liên quan gì đến triều Tây Sơn để phải bị mài nhẵn chữ như NNC NĐX suy luận.

Vả chăng, nếu triều Nguyễn muốn phá thì hẳn phải tập trung phá những thứ liên quan đến Tây Sơn, đến lăng mộ Quang Trung và tất yếu sẽ phá sạch, đâu còn dấu tích gì. Còn riêng về các tháp tổ sư Phật giáo thì có liên quan gì mà phải phá sạch?

Hơn thế nữa, triều Nguyễn rất mến mộ đạo Phật, từ khi vua Gia Long khôi phục trung hưng trở đi, rất nhiều ngôi chùa Phật lớn nhỏ đã được ủng hộ, hộ trì trùng tu khôi phục mới mẻ khang trang, Phật điện trang nghiêm. Kể cả ngôi chùa Thiền Lâm, như ông NĐX đã dẫn, được Thừa Thiên Cao Hoàng hậu ban tiền trùng tu, lại mời Hòa thượng Tổ Ấn Mật Hoằng– Tăng cang chùa Thiên Mụ đến lo trùng tu chùa Thiền Lâm, tổ chức in ấn kinh sách Phật giáo để lại cho đời… thế thì tại sao lại dám phá tháp tổ, mài nhẵn bia tháp??? Việc phá hoại, xâm phạm tháp tổ truyền đời của Phật giáo là điều vô đạo mà chính ngay người bình thường nào đấy cũng đều không dám làm, chứ đừng nói là những người vốn rất sùng mộ đạo Phật như triều Nguyễn.

Do đó, NNC NĐX cho rằng “Chùa Thiền Lâm phụ thuộc phủ Dương Xuân – cung điện Đan Dương nên phải chịu chung số phận bị xóa bỏ, chôn sâu xuống đất. Nhưng sau khi nhà Nguyễn đã “trừng trị” nhà Tây Sơn xong rồi, vùng đất bị trừng phạt đã có thuộc ấp Bình An, Thừa Thiên Cao Hoàng hậu – một người đã sát cánh với Nguyễn Vương phục hưng triều Nguyễn, rất mộ đạo Phật – đã bỏ tiền nhờ Hòa thượng Mật Hoằng – tăng cang chùa Thiên Mụ, trùng tu lại chùa Thiền Lâm…”[5] là một sự suy diễn khá cực đoan, cố tình gán ghép tội trạng cho triều Nguyễn.

Đưa ra nhận định này, NNC NĐX vì muốn tất cả các dữ kiện đều được hợp ý mình, theo hướng có một cung điện Đan Dương nào đó, nên đã cố gắng “gọt chân cho vừa giày”, khiến lời nhận xét trước và sau tự mâu thuẫn với nhau rất rõ.

Bởi, nếu đã xóa bỏ dấu tích Tây Sơn thì triều Nguyễn có đủ quyền lực để cấm cản tất cả mọi tổ chức cá nhân đến vùng đất này, và địa bạ giấy tờ vùng đất này đều phải ghi là đất cấm, tuyệt không ai được phép sinh sống, canh tác!

Song, thực tế triều Nguyễn vẫn cho trùng tu xây dựng chiền toàn vùng đất gò Dương Xuân, đất đai toàn vùng vẫn được sử dụng canh tác và ghi chép rõ ràng vào Địa bạ xã Dương Xuân (năm Gia Long thứ 14 - 1815).

Qua khảo sát địa bạ xã Dương Xuân, xứ Bộ Hóa Thượng (vùng đất bao hàm toàn khu vực chùa Thiền Lâm, chùa Vạn Phước, chùa Kim Tiên, chùa Từ Đàm… ngày nay, bản địa bạ năm Gia Long thứ 14 - 1815), chúng tôi không hề thấy vùng đất nào được ghi là “đất cấm”, mà ngược lại, trong 5 mẫu 3 sào 7 thước 8 tấc của xứ Bộ Hóa Thượng đã có đầy đủ tất cả các loại ruộng đất của Tam Bảo (chùa thiền), của dân, của quan lại, của Hoàng tộc (xem ảnh 24)

Ảnh 24: Địa bạ xứ Bộ Hóa Thượng, xã Dương Xuân (năm Gia Long 14).

 

Qua các phần phản luận cụ thể ở những mục trên, chúng tôi thấy rằng công trình Thiền Lâm của NNC NĐX được thực hiện dựa trên các chứng cứ, lập luận thiếu khách quan chân xác. Bởi thế, sách Thiền Lâm dẫu vô tình hay hữu ý vẫn để lại cho hậu thế sự hiểu biết sai lệch, nhầm lẫn về ngôi chùa Thiền Lâm – một ngôi chùa có dấu ấn đặc trưng đậm nét trong lịch sử Phật giáo Huế.

3. Kết luận:

Tóm lại, sau khi tiếp nhận sách Thiền Lâm, chúng tôi càng đọc càng thấy rõ nhiều dữ liệu và nhận định, bàn luận của NNC NĐX gần như quá thiên theo hướng chủ quan cảm tính, thiếu những điều kiện căn cốt làm “nền móng” vững chắc cho một công trình khoa học, nhất là khoa học lịch sử, liên quan đến không chỉ Phật giáo Huế, mà còn can hệ đến một trong những biến động lớn của lịch sử dân tộc.

Các bản dịch của Hải ngoại kỷ sự, Đại Nam nhất thống chí, Dụ Am ngâm lục, Đại Nam liệt truyện…  được NNC NĐX sử dụng như một công cụ căn bản nhất để triển khai các công trình nghiên cứu liên quan đến lăng mộ Hoàng đế Quang Trung (trong đó có công trình Thiền Lâm). Song, do không nắm rõ ý nghĩa văn bản ấy nên tác giả càng lúc càng đi xa hơn với sai lầm từ suy luận chủ quan của mình.

Bên cạnh đó, để phù hợp với hướng xác định cung điện Đan Dương ở gần chùa Thiền Lâm, ông đã phản ánh sai một số dữ liệu thực địa trên khu vực ấp Bình An, với ý định gán ghép tội trạng khó dung cho triều Nguyễn (rằng triều Nguyễn cố tình phá tan tháp mộ, đập phá hoặc mài nhẵn bia đá để khắc lại các dòng chữ khác đè lên… )

Từ các luận cứ, luận chứng cụ thể đã được chỉ ra ở trên, chúng tôi nhận thấy công trình này mắc phải các lỗi cơ bản dưới đây:

- Thiếu sự đầu tư nghiên cứu kỹ càng các dữ liệu, thiếu kiến thức chuyên môn, dẫn đến những nhận định chủ quan, tư biện. Đó là nguyên nhân khiến cho tác giả công trình dẫu vô tình hay hữu ý đã thực sự xúc phạm đến sự tôn nghiêm của chùa Thiền Lâm, xúc phạm đến vị tổ sư khai sơn chùa Thiền Lâm (ban đầu là Thiền Lâm viện).

- Ông đi thực địa, khảo sát các loại hình bia đá tháp mộ trên vùng đất này, nhưng vì không thông hiểu nên đã phản ánh sai, dẫn đến suy luận sai về các tháp mộ hiện tồn nơi đây.

- Ông dùng các văn bản tư liệu có liên quan đến chùa Thiền Lâm như Hải ngoại kỷ sự, Đại Nam liệt truyện, Dật thi lược toản, Đại Nam nhất thống chí… nhưng hoặc vì quá tin tưởng vào bản dịch, hoặc tự ý suy luận dựa vào một số câu chữ trong bản dịch, nên càng khiến những nhận định tiếp theo của tác giả càng thêm phần sai lệch. Hơn thế nữa, ông liên tiếp có sự suy diễn, bình luận gán ghép về tội phá mồ mả, đập phá chùa chiền, giấu giếm thông tin liên quan đến chùa Thiền Lâm… cho triều Nguyễn (tức gián tiếp gán tội xúc phạm Tam Bảo thực khó dung của triều Nguyễn). Trong khi đó, triều Nguyễn là một triều đại rất mộ Đạo, ngay từ đầu đã góp công góp sức mạnh mẽ cho công cuộc trùng tu tôn tạo chùa chiền, góp phần đẩy mạnh và hưng khởi đạo Phật ở toàn cõi Việt Nam. Bởi vậy, triều Nguyễn không thể có những việc làm vô đạo, phi luân như cách NNC NĐX suy diễn.

- Từ thông tin Thái sư triều Tây Sơn là Bùi Đắc Tuyên dùng đất Phật là ngôi chùa Thiền Lâm để làm dinh thự của riêng mình (chứng tỏ nhân vật này chẳng coi Phật-Pháp-Tăng ra gì cả) với tất cả các sinh hoạt thường nhật diễn ra trên đất Phật, NNC NĐX đã tiếp tục liên tưởng và tưởng tượng cho cả triều đình Quang Trung, Quang Toản lên họp triều chính, sinh hoạt thường ngày trên đất Thiền Lâm. Đó là một trong những điều khá phi luân, phản đạo mà bất kỳ người Phật tử nào cũng không dám thực hiện (thậm chí cả người bình thường, không theo Phật giáo cũng có quan niệm phải kính trọng, tôn trọng vùng đất Phật, hoặc các vùng đất thuộc tín ngưỡng tôn giáo nói chung).

Với các sai lầm như trên, chúng tôi cho rằng cuốn sách Thiền Lâm vừa thiếu tính khách quan chân xác, vừa là công trình xúc phạm nặng nề tổ sư chùa Thiền Lâm, Phật giáo Huế, triều Nguyễn… Bởi thế, thông qua bài viết này, chúng tôi xin đề nghị tác giả công trình cần xem xét kĩ lại công trình của mình. Bởi ông vừa là người nghiên cứu, lại cũng vừa là Phật tử, nên chăng cần tôn trọng Phật giáo Huế, tôn trọng tổ sư chùa Thiền Lâm và thực hiện những điều phải đạo hơn./.

(hết)

 


[1] Nguyễn Đắc Xuân, Thiền Lâm – ngôi chùa lịch sử, sđd, tr.49.

[3] Nguyễn Đắc Xuân, Thiền Lâm – ngôi chùa lịch sử, sđd, tr.48

[4] Nguyễn Đắc Xuân, Thiền Lâm ngôi chùa lịch sử, Sđd, tr.34

[5] Nguyễn Đắc Xuân, Thiền Lâm ngôi chùa lịch sử… Sđd, tr.61.

 

Tài liệu tham khảo chính:

1/ Lê Quý Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục (Phạm Trọng Điềm phiên dịch và chú thích), Nxb Văn hóa Thông tin, HN

2/ L.Cadière (1928), “Tombeaux Annamites dans les environs de Hué” (Lăng mộ của người An Nam trong phụ cận Huế)”, Bullentin des Amis du Vieux Hué (BAVH) No.1, Janv-  Mars.

3/ Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí (bản Hán văn) Q.1, ký hiệu: R.779, Thư viện Quốc gia Việt Nam lưu trữ, link: http://lib.nomfoundation.org/collection/1/volume/168/

4/ Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí tập 1 (bản dịch Viện Sử học, tái bản lần thứ hai), Nxb Thuận Hóa, Huế

5/ Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục, tập 2 (bản dịch Viện Sử học), Nxb Giáo Dục, HN

6/ Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục, tập 7 (bản dịch viện Sử học), Nxb. Giáo Dục, HN

7/ Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên (bản Hán văn) Q.10-12, ký hiệu: R.777, Thư viện Quốc giá Việt Nam lưu trữ, link: http://lib.nomfoundation.org/collection/1/volume/182/

8/. Thích Đại Sán釋大汕, Hải ngoại kỷ sự 海外紀事 , 北京大學圖書館 (link: https://archive.org/details/02087136.cnhttps://archive.org/details/02087137.cn  ).

9/ Sơn bi (thác bản), ký hiệu: N020966, Viện Nghiên cứu Hán Nôm lưu trữ

10/ Thích Đại Sán (1963), Hải ngoại kỷ sự- sử liệu nước Đại Việt thế kỷ XVII, viện Đại học Huế - Ủy ban Phiên dịch sử liệu Việt Nam dịch và xuất bản

11/ Lê Mạnh Thát (2000), Toàn tập Minh Châu Hương Hải, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh

12/ Nguyễn Đắc Xuân (2014), Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân thời ở Huế, Nxb. Thuận Hóa, Huế

13/ Nguyễn Đắc Xuân (2007), Đi tìm dấu tích cung điện Đan Dương – Sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung, Nxb. Thuận Hóa, Huế

14/ Nguyễn Đắc Xuân (2015), Đi tìm dấu tích cung điện Đan Dương – Sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung(tái bản lần thứ 1), Nxb Thuận Hóa, Huế

15/ Nguyễn Đắc Xuân (2017), Phủ Dương Xuân thời các chúa Nguyễn – tiền thân của cung điện Đan Dương, Sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung, Nxb. Văn hóa Văn nghệ, TP HCM

16/ Nguyễn Đắc Xuân (2017), Thiền Lâm - ngôi chùa lịch sử, Thiền viện đầu tiên lớn nhất Đàng Trong, Nxb Thuận Hóa, Huế

17/ http://anphat.org/dictionary/detail/tu-dien-phat-quang/2/all/47156/noi-vien/193

18/ Tư liệu địa điền bạ và bản đồ ấp Bình An (niên hiệu Thành Thái thứ 19 [1907]), Tư liệu do ông Võ Văn Sơn ở ấp Bình An lưu trữ.

01/2018            

 
TS. Võ Vinh Quang
Các tin khác:
Trang chủLiên hệ
Liên kết Website
Bản quyền Website thuộc về Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế
Địa chỉ: Tam Toà, 23 Tống Duy Tân - Huế - Việt Nam
Điện thoại: +(84).234.3523237 - 3513322 - 3512751 - Fax: +(84).234.3526083
Email: huedisan@gmail.com
Xin ghi rõ nguồn “Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế” khi sử dụng thông tin từ Website này.